Về Thượng Đế -- J. Krishnamurti
#1
Lightbulb 
Thỉnh thoảng tôi đọc lại một số bài nói chuyện của Jiddu Krishnamurti về những vấn đề chiến tranh, chính trị, xã hội, tôn giáo... Tầm nhìn sâu rộng của ông vẫn luôn luôn giữ vững giá trị theo thời gian không hề thay đổi. Với tôi mỗi lần đọc lại ông, vẫn cảm thấy thấm thía, tươi tắn, mới lạ và hữu ích dù rằng tôi đã đọc qua không ít lần trước đây. Hôm nay chọn đăng lại một số bài của ông mà tôi đã từng đăng năm, mười năm hoặc hơn trước đây ở VB, đến với những ai muốn tìm hiểu thêm về tư tưởng của ông. -- anattā

VỀ CHIẾN TRANH
(On War)


HỎI: Làm thế nào chúng ta có thể giải quyết sự hỗn loạn chính trị hiện nay và cơn khủng hoảng trên thế giới bây giờ? Có điều gì một cá nhân có thể làm được để chấm dứt trận chiến tranh đang đe dọa hiện nay?

KRISHNAMURTI: Chiến tranh là sự phóng hiện ngoạn mục và đẫm máu, phóng hiện ra bên ngoài những gì chứa đựng trong đời sống thường nhật của chúng ta, phải thế không? Chiến tranh chỉ là sự phát biểu bên ngoài của trạng thái nội tại trong tâm hồn chúng ta, sự phóng đại của đời sống thường nhật chúng ta. Chiến tranh phát hiện ngoạn mục hơn, đẫm máu hơn, tàn khốc hơn mọi sự, bởi vì đó là kết quả tập thể của những sinh hoạt cá thể. Do đó ngài và tôi là kẻ chịu trách nhiệm cho trận chiến tranh hiện nay, và chúng ta làm gì để chấm dứt chiến tranh? Cố nhiên, các ngài và tôi không thể nào ngăn chận được trận chiến tranh vẫn luôn luôn đe dọa khắp nơi, vì trận chiến tranh đã diễn tiến lan tràn rồi, chiến tranh đã xảy ra rồi, dù hiện tại chỉ rõ rệt nhất là trên bình diện tâm lý, trận chiến lại dễ thấy có ảnh hưởng khốc hại hơn hết. Vì chiến tranh đã diễn biến vận hành rồi, không ai có thể ngăn chận chiến tranh được nữa – những vấn sự quá to tát, quá nhiều, quá dan díu và mọi sự đã bị đưa vào cuộc rồi. Tuy nhiên, các ngài và tôi, lúc thấy rằng ngôi nhà đang cháy, có thể hiểu được những lý do gây ra hỏa hoạn, chúng ta có thể dời đi nơi khác để tránh lửa và xây dựng ở một nơi khác với những vật liệu khác, những vật liệu không dẫn hỏa, những vật liệu nào khả dĩ không gây ra những trận chiến tranh khác. Đó là tất cả những gì chúng ta có thể làm được. Các ngài và tôi, có thể nhìn thấy những gì tạo ra chiến tranh và nếu chúng ta thực sự để tâm muốn ngăn chận chiến tranh, lúc ấy, chúng ta có thể bắt đầu tự chuyển hóa bản thân, vì bản thân chúng ta chính là nguyên nhân của chiến tranh.

Một bà thiếu phụ người Mỹ đến thăm tôi cách đây vài năm vào thời chiến tranh. Bà nói rằng, bà đã mất đứa con trai bà ở trận chiến tại Ý đại lợi và bà còn một đứa con trai kế được mười sáu tuổi mà bà muốn đứa con trai này không phải chết như anh nó vì thế bà muốn bàn bạc với tôi về vấn đề này. Tôi đưa ý rằng nếu bà muốn cứu sống đứa con trai thứ của bà thì phải bỏ quốc tịch của bà đi; bà phải bỏ gian tham, bỏ việc tích trữ chồng chất tài sản tìm kiếm quyền thế, thống trị và phải có tinh thần đơn giản – chẳng phải chỉ đơn giản trong cách ăn mặc, không phải chỉ đơn giản ở hình thức bên ngoài, mà phải đơn giản trong tư tưởng của bà, trong cảm giác và trong tương giao. Bà ấy trả lời, “Như thế thì quá sức tôi. Ngài đòi hỏi nhiều quá. Tôi không thể làm được như vậy, bởi vì tôi không đủ sức để biến chuyển những hoàn cảnh”. Thế là chính bà ấy đã chịu trách nhiệm về sự hủy diệt của đứa con bà.

Chúng ta có thể chế ngự những hoàn cảnh bởi vì chúng ta đã tạo ra những hoàn cảnh. Xã hội là sản phẩm của tương giao, của tương giao ngài và tương giao tôi cùng chung với nhau. Nếu chúng ta biến đổi tương giao của chúng ta thì xã hội biến đổi; chỉ dựa trên pháp luật, trên sự cưỡng bức để mà thay đổi xã hội bên ngoài, trong khi ấy mình vẫn thối nát bên trong tâm tư, nội tâm mình vẫn tiếp tục tìm kiếm quyền thế, địa vị, thống trị, như thế có nghĩa là phá hủy thế giới bên ngoài, dù thế giới bên ngoài này có thể được xây dựng một cách kỹ lưỡng, một cách khoa học đi nữa thì cũng chỉ là phù phiếm. Thế giới nội tâm vẫn luôn luôn chiến thắng thế giới bên ngoài.

Những gì tạo ra chiến tranh -- trên phương diện tôn giáo, chính trị hoặc kinh tế? Cố nhiên những nguyên nhân của chiến tranh là tín ngưỡng, tín ngưỡng vào chủ nghĩa ái quốc hạn hẹp, vào một ý thức hệ hoặc vào một tín điều đặc thù nào đó. Nếu chúng ta không có tín ngưỡng mà chỉ có thiện chí, tình thương và kính trọng lẫn nhau thì lúc ấy không thể nào có chiến tranh được. Nhưng chúng ta đã được nuôi dưỡng bằng những tín ngưỡng, những ý tưởng và những tín điều, do đó, chúng ta chỉ nuôi dưỡng sự bất hòa. Cơn khủng hoảng hiện nay có tính cách ngoại lệ, và đứng trên cương vị con người, chúng ta bắt buộc chọn lựa: hoặc đeo đuổi con đường xung đột thường trực và chiến tranh liên tục tức là kết quả của tất cả hành động thường nhật của chúng ta, hoặc tìm thấy những nguyên nhân của chiến tranh và quay lưng lại với những nguyên nhân ấy.

Cố nhiên nguyên nhân của chiến tranh là lòng khát vọng quyền hành, địa vị, uy tín, tiền bạc; nguyên nhân của chiến tranh cũng là chứng bệnh mang tên là chủ nghĩa ái quốc hạn hẹp, sùng bái một lá cờ, chứng bệnh của tương giao tổ chức, sự sùng bái một tín điều. Tất cả những thứ này là những nguyên nhân của chiến tranh; nếu đứng trên cương vị của một cá thể, ngài lại thuộc vào bất cứ một tương giao tổ chức nào, nếu ngài tham quyền cố vị, nếu ngài ghen ghét đố kỵ, nhất định ngài sẽ tạo ra một xã hội đi đến sự phá hoại diệt vong. Vì thế mọi sự là tùy thuộc vào các ngài, chứ không phải tùy thuộc vào những vị lãnh tụ, không phải tùy thuộc vào những kẻ gọi là chính khách và những hạng người đại loại như vậy. Mọi sự đều tùy thuộc vào ngài và tôi, nhưng dường như chúng ta không ý thức được điều ấy. Nếu chúng ta chỉ thực sự một lần cảm thấy được trách nhiệm của những hành động mình, thì chúng ta có thể chấm dứt nhanh chóng tất cả chiến tranh, tất cả thống khổ kinh hoàng, chấm dứt một cách nhanh chóng biết bao! Tuy nhiên, các ngài đã thấy rõ rằng chúng ta quá hững hờ lãnh đạm. Chúng ta có được ba bữa ăn mỗi ngày, chúng ta có công ăn việc làm, chúng ta có những ngân khoản ở nhà băng, ngân khoản nhỏ, ngân khoản to, và chúng ta lại nói, “cầu trời, xin đừng phiền rầy chúng tôi, hãy để chúng tôi yên thân”.

Chúng ta càng leo cao, chúng ta lại càng muốn được thêm nhiều an ninh, trường tồn, an tâm, chúng ta lại càng muốn yên thân, muốn mọi sự cố định như thường lệ; nhưng mọi sự không thể nào cố định được như thường lệ, bởi vì không có gì lưu tồn. Mọi sự đều đang phân tán. Chúng ta không muốn đối mặt với những sự việc này, chúng ta không muốn đối diện với sự kiện rằng các ngài và tôi phải chịu trách nhiệm đối với cuộc chiến tranh này. Các ngài và tôi có thể nói về hòa bình, hội nghị, hội thảo chung quanh bàn tròn và luận bàn mọi sự, nhưng trong tâm thức, đứng về mặt tâm lý, chúng ta lại thèm muốn quyền hành, địa vị, chúng ta bị thôi thúc bởi lòng gian tham. Chúng ta gây sự, chúng ta chạy theo lòng ái quốc hẹp hòi, chúng ta bị buộc trong những tín ngưỡng, những tín điều, mà chúng ta sẵn sàng hy sinh thân mạng, sẵn sàng tàn sát lẫn nhau. Các ngài có nghĩ rằng những hạng người như vậy, các ngài và tôi, có thể đem đến hòa bình trên thế giới? Muốn có được hòa bình, chúng ta phải hòa bình nơi tâm thức; sống một cách hòa bình, thanh bình, có nghĩa là không tạo ra sự chống đối hiềm khích. Hòa bình không phải là một ý tưởng. Đối với tôi một lý tưởng chỉ là một lối thoát ly, trốn tránh hiện thể, mâu thuẫn với hiện thể. Bất cứ một lý tưởng nào cũng đều ngăn chặn lại hành động trực tiếp đối với hiện thể (*). Muốn có hòa bình, chúng ta phải thương yêu, chúng ta không phải sống một cuộc đời lý tưởng mà phải nhìn sự thể như là sự thể, thực sự như là thế, và tác động trên sự thể, chuyển hóa sự thể. Khi mà mỗi một người trong chúng ta lại đi tìm sự an ninh tâm lý; sự an ninh thể xác cần thiết như cơm, áo, chỗ ở, nhu cầu vật chất phải bị phá hủy. Chúng ta đều tìm kiếm sự an ninh tâm lý, sự an ninh tâm lý này không hiện hữu, thế mà chúng ta vẫn tìm kiếm nó, cố sức tìm kiếm nó qua quyền thế, địa vị, chức tước, tên tuổi – tất cả những thứ này đang phá hủy sự an ninh vật chất. Đó là một sự kiện dễ thấy, nếu các ngài chịu khó để tâm vào vấn đề.

Muốn đem đến hòa bình trên thế giới, muốn chấm dứt chiến tranh, mình phải thực hiện cuộc cách mạng trong cá thể, trong các ngài và tôi. Cuộc cách mạng kinh tế chỉ là vô nghĩa, nếu cuộc cách mạng kinh tế này thiếu mất cuộc cách mạng nội tâm, vì sự đói kém là kết quả của sự bất tương ứng giữa những điều kiện kinh tế và sự bất tương ứng của những điều kiện kinh tế này phát sinh từ những trạng thái tâm lý của chúng ta như lòng tham, lòng đố kỵ, ghen ghét, thiếu thiện chí và lòng chiếm hữu. Muốn chấm dứt đau đớn thống khổ, đói kém, chiến tranh thì mình phải làm một cuộc cách mạng tâm thức, nhưng rất ít người chịu đối mặt với sự thật này. Chúng ta sẽ vẫn tiếp tục bàn cãi về hòa bình, đặt kế hoạch lập pháp, tạo ra những liên minh mới, Liên Hiệp quốc, vân vân và vân vân, nhưng chúng ta sẽ không đạt được hòa bình, bởi vì chúng ta sẽ không chịu bỏ địa vị chúng ta, quyền thế của chúng ta, tiền bạc, tài sản, đời sống ngu xuẩn của chúng ta. Chỉ nương cậy vào những kẻ khác, là một việc hoàn toàn phù phiếm, những kẻ khác không thể nào đem đến hòa bình cho chúng ta, không có vị lãnh tụ nào sắp mang hòa bình tới cho chúng ta, không có chính quyền nào, không có quân đội nào, không có quốc gia nào có thể làm được việc ấy. Chỉ là một điều khả dĩ mang đến hòa bình là sự chuyển hóa nội tâm, chính sự chuyển hóa nội tại này sẽ đưa tới hành động ở ngoại giới. Sự chuyển hóa nội tâm không phải là sự cô lập, không phải là lùi tránh hành động ngoại giới. Trái lại, chỉ có hành động chính đáng khi nào có sự suy tư chính đáng, và chỉ có sự suy tư chính đáng là khi nào có sự tự tri. Không thể nào có hòa bình được nếu mình không tự hiểu mình.

Muốn chấm dứt chiến tranh bên ngoài, các ngài phải bắt đầu chấm dứt chiến tranh bên trong tâm hồn các ngài . Một số người ngồi đây sẽ gật đầu và nói, “tôi đồng ý”, và bước ra về, rồi cũng tiếp tục làm lại y hệt những gì mình đã làm từ mười hoặc hai mươi năm nay. Sự đồng ý của các ngài chỉ có tính cách ngôn từ và không có ý nghĩa gì cả, vì sự đồng ý hờ hững của các ngài không thể chận đứng được nỗi thống khổ và chiến tranh của nhân loại hiện nay. Chỉ có thể chận đứng được mọi nỗi khốn khổ đao binh này khi nào các ngài ý thức được nỗi hiểm họa, khi các ngài ý thức được trách nhiệm của các ngài, khi ngài không để trách nhiệm ấy cho một kẻ nào khác. Nếu các ngài ý thức được nỗi đau đớn hiện nay, nếu các ngài thấy được sự đòi hỏi cấp bách hành động trực tiếp không trì hoãn thì lúc ấy các ngài sẽ tự chuyển hóa bản thân; hòa bình chỉ có thể xuất hiện khi nào chính các ngài đã hòa bình trong bản thân, khi nào chính các ngài sống hòa thuận với người láng giềng của các ngài.

Phạm Công Thiện dịch.


(*) Hiện thể = What is, cái-đang-là, thực tại.
Xin cứ để cho tôi đốt ngọn đèn của tôi đi… mà đừng bao giờ hỏi nó sẽ làm tan được bóng tối hay không. R. Tagore
Reply
#2
VỀ CUỘC KHỦNG HOẢNG HIỆN TẠI
(On The Present Crisis)

HỎI: Ngài nói rằng cuộc khủng hoảng hiện tại là không tiền (khoáng hậu). Vậy cuộc khủng hoảng này ngoại lệ như thế nào ?

KRISHNAMURTI: Hiển nhiên, cuộc khủng hoảng hiện nay trên toàn thế giới có tính cách ngoại lệ, chưa từng xảy ra trước kia. Trong quá trình lịch sử, vào những thời đại khác nhau, chúng ta thấy xảy ra đủ loại khủng hoảng khác nhau, trên phương diện xã hội, quốc gia, chính trị. Những cuộc khủng hoảng hiện đến và trôi qua; những sự sụp đổ phá sản, khủng hoảng kinh tế xảy ra, được biến đổi và tiếp tục trong một hình thức khác. Chúng ta đều biết rõ điều này, chúng ta quá quen thuộc với tiến trình này, cố nhiên cuộc khủng hoảng hiện tại thì hoàn toàn khác hẳn, phải thế không? Cuộc khủng hoảng này hoàn toàn khác hẳn trước nhất bởi vì chúng ta không phải đối trị với tiền bạc, cũng không phải đối trị với những sự vật hữu hình, mà lại phải đối trị với những ý tưởng.

Cuộc khủng hoảng hiện nay có tính cách ngoại lệ, vì nó lệ thuộc vào lãnh vực của sự vận hành ý niệm. Chúng ta tranh luận nhau về những ý tưởng ; chúng ta đều tìm cách biện minh cho sự sát nhân và xem việc ấy như là một phương tiện hướng tới một cứu cánh chính đáng, chính sự kiện này cũng không tiền, chưa từng xảy ra trước kia. Trước kia, điều ác, điều bất thiện được gọi là ác, bất thiện ; sự sát nhân được nhận chân tướng đích thực là sát nhân, nhưng ngày nay, sự sát nhân lại được xem như là một phương tiện để đạt tới một cứu cánh cao thượng. Người ta tìm cách biện minh cho hành động sát nhân, thuộc phạm vi cá nhân hoặc phạm vi đoàn thể, bởi vì kẻ sát nhân hay đoàn thể mà kẻ sát nhân ấy đại diện, đã biện minh hành động mình như là phương tiện cần thiết để đạt tới một cứu cánh gọi là “có lợi” cho loài người. Nói rõ hơn, chúng ta đã hy sinh hiện tại cho tương lai – và bất cứ phương tiện nào được dùng cũng được, miễn là mang đến “lợi ích” cho con người là đủ. Do đó, người ta hiểu ngầm rằng một phương tiện sai lầm có thể tạo tác ra một cứu cánh chính đáng, rồi người ta lại biện minh cho phương tiện sai lầm ấy bằng sự vận hành ý niệm. Trước kia, trong những cuộc khủng hoảng, vấn đề là sự khai thác lợi dụng về sự vật hoặc về nhân sự, nhưng bây giờ lại là sự khai thác lợi dụng về những ý tưởng, như thế lại càng khốc hại nguy hiểm hơn nữa, vì khai thác lợi dụng những ý tưởng thì tàn phá khôn cùng, hủy hoại không cùng. Bây giờ chúng ta đã hiểu rõ về thế lực của sự tuyên truyền, thế lực tuyên truyền là một trong những tai họa lớn nhất đã xảy ra trên đời này: lợi dụng những ý tưởng như là một phương tiện để chuyển hóa con người. Đó là điều hiện nay đang xảy ra trên thế giới. Con người không còn quan trọng nữa – những hệ thống, những ý tưởng đã trở thành quan trọng hơn. Con người không còn có được bất cứ ý nghĩa nào nữa. Chúng ta có thể phá hủy tiêu diệt hàng triệu người khi mà chúng ta còn tạo tác được một kết quả, thành quả nào đó, và thành quả ấy được biện minh bằng những ý tưởng. Chúng ta có cả một cơ cấu đồ sộ về những ý tưởng để biện minh cho sự ác và chắc chắn là điều này không từng xảy ra lần nào trong quá khứ. Điều ác là điều ác; nó không thể nào tạo ra điều thiện được. Chiến tranh không phải là một phương tiện đưa tới hòa bình. Chiến tranh có thể đem lại một số lợi ích phụ thuộc, chẳng hạn như thêm nhiều phi cơ hữu hiệu tối tân hơn nữa, nhưng chiến tranh sẽ không đem hòa bình đến cho loài người được. Đứng về mặt trí thức, chiến tranh được biện minh như là một phương tiện để đem lại hòa bình nhưng khi mà trí thức được giữ ưu thế thì nó sẽ mang tới cuộc khủng hoảng không tiền (khoáng hậu).

Có nhiều nguyên nhân khác để nói lên cuộc khủng hoảng không tiền này. Một trong những lý do mà con người đã đặt sự quan trọng lạ thường nơi những giá trị giác quan, nơi tài sản, nơi danh tước, giai cấp, xứ sở, nhãn hiệu đặc biệt mà mình mang trong người. Các ngài có thể là người theo đạo Hồi giáo, hay theo đạo Ấn độ, Thiên Chúa giáo hay theo Cộng Sản, danh hiệu và tài sản giai cấp xứ sở; đã trở thành quan trọng vô cùng, điều ấy chỉ nói lên rằng con người bị vướng kẹt trong giá trị giác quan, giá trị của những sự vật, sự vật làm bằng óc não hay bằng tay. Những sự vật làm bằng tay hay bằng óc đã trở thành quan trọng đến nỗi chúng ta giết nhau, tàn sát nhau, phá hoại nhau, xâu xé và thanh toán nhau cũng vì những sự vật ấy. Chúng ta đang đi đến cận bờ hố thẳm; tất cả những hành động của chúng ta đang đưa dẫn chúng ta đến đó, tất cả hành động chính trị, tất cả hành động kinh tế đang đưa chúng ta đến hố thẳm không thể nào tránh được, tất cả những hành động này đang lôi kéo chúng ta vào trong hố thẳm hỗn loạn, hỗn mang. Đó là lý do cắt nghĩa tại sao cuộc khủng hoảng hiện nay là chưa từng xảy ra trong lịch sử, cuộc khủng hoảng này đòi hỏi chúng ta phải có hành động độc đáo, hành động chưa từng xảy ra trong lịch sử. Muốn lìa bỏ, muốn bước ra ngoài cơn khủng hoảng hiện nay, chúng ta cần phải có hành động vượt ra ngoài thời gian , một hành động không còn xây dựng trên ý tưởng, trên hệ thống, bởi vì bất cứ hành động nào được xây dựng trên một hệ thống trên một ý tưởng, đều nhất định dẫn tới bất lực, tuyệt vọng không thể nào tránh được. Hành động như thế chỉ đưa chúng ta trở lại hố thẳm bằng một đường lối khác thôi. Vì cơn khủng hoảng hiện nay là không tiền, mình cũng cần phải có hành động không tiền, nghĩa là sự hồi phục, hồi sinh của cá thể phải là đột phát chứ không phải là một tiến trình thời gian. Hành động không tiền này phải xảy ra ngay bây giờ, chứ không phải vào ngày mai, vì ngày mai chỉ là một tiến trình phân hóa thôi. Nếu tôi nghĩ rằng sự chuyển hóa bản thân có thể thực hiện được vào ngày mai thì tôi chỉ gọi mời sự hỗn loạn thôi, thì tôi vẫn còn vướng lụt trong lãnh vực phá hoại. Có thể nào thay đổi ngay bây giờ? Có thể nào thay đổi, chuyển hóa bản thân một cách toàn triệt ngay lập tức, ngay bây giờ, hiện tại? Tôi cho rằng có thể làm được.

Vấn đề là cuộc khủng hoảng hiện nay có tính cách ngoại lệ, do đó, muốn đối mặt với cuộc khủng hoảng ngoại lệ này, mình phải làm một cuộc cách mạng trong tư tưởng, cuộc cách mạng này không thể xảy ra được qua trung gian của bất cứ tổ chức nào. Chỉ có qua chúng ta, qua mỗi người trong chúng ta, thì cuộc cách mạng ấy mới thành hình được. Chỉ có lúc ấy chúng ta mới có thể tạo ra một xã hội mới, một cơ cấu mới vượt ra ngoài cơn khủng khiếp hiện nay, vượt ra ngoài những sức lực tàn phá dị thường đang được tích trữ, chồng chất và sự chuyển hóa toàn triệt này chỉ có thể thực hiện khi nào đứng trên cương vị của một cá thể, các ngài bắt đầu ý thức, trực thức về bản thân trong mỗi một tư tưởng, trong mỗi một hành động và mỗi một cảm giác.

Phạm Công Thiện dịch.
Xin cứ để cho tôi đốt ngọn đèn của tôi đi… mà đừng bao giờ hỏi nó sẽ làm tan được bóng tối hay không. R. Tagore
Reply
#3
Về Tín Ngưỡng nơi Thượng Đế
(On Belief in God)


HỎI: Tín ngưỡng vào Thượng đế đã từng là một kích thích tố mạnh mẽ cho con người sống đàng hoàng tươi đẹp hơn. Tại sao ngài lại phủ nhận chối bỏ Thượng đế? Tại sao ngài không cố gắng đánh thức dậy đức tin của con người trong ý niệm Thượng đế?

KRISHNAMURTI: Chúng ta hãy nhìn thẳng vấn đề một cách rộng rãi hơn và thông minh hơn. Tôi không phủ nhận Thượng đế --- làm như thế chỉ là khờ khệch. Chỉ có kẻ nào không hiểu thực tại mới quấn quít thích thú với những tiếng vô nghĩa. Kẻ nào nói rằng mình biết thì không biết gì cả; kẻ nào thể nghiệm thân chứng thực tại từ giây phút này đến giây phút khác thì không có phương tiện để truyền đạt thực tại ấy.

Tín ngưỡng là sự phủ nhận chân lý, tín ngưỡng làm chướng ngại tâm lý; tin tưởng, đặt tín ngưỡng Thượng đế là không tìm thấy Thượng đế. Kẻ có tín ngưỡng và kẻ không có tín ngưỡng, cả hai đều sẽ không tìm thấy Thượng đế; bởi vì thực tại là điều xa lạ, và tín ngưỡng của ngài hoặc sự vô tín ngưỡng của ngài nơi điều xa lạ kia đều chỉ là một sự phóng ngoại của bản ngã, do đó, không thực gì cả. Tôi biết rằng ngài tin tưởng, ngài có tín ngưỡng và tôi biết rằng tín ngưỡng chẳng có ý nghĩa gì trong đời sống ngài. Có rất nhiều người tin tưởng; hàng triệu người tin tưởng vào Thượng đế và tìm an ủi ở đó.

Trước hết , tôi muốn hỏi, tại sao ngài tin tưởng, tại sao ngài có tín ngưỡng? Ngài có tín ngưỡng vì điều ấy đem đến sự thỏa mãn cho ngài, đem đến an ủi hy vọng, và ngài cho rằng tín ngưỡng ban ý nghĩa cho đời sống. Trong thực tế tín ngưỡng của ngài chẳng có ý nghĩa gì đáng kể, bởi vì ngài tín ngưỡng và trục lợi, ngài tín ngưỡng và vẫn chém giết, ngài tín ngưỡng vào một Thượng đế đại đồng, và vẫn giết hại lẫn nhau. Kẻ giàu sang cũng có tín ngưỡng vào Thượng đế; hắn vẫn bóc lột mọi người một cách tàn nhẫn, chồng chất tiền bạc, rồi xây dựng nhà thờ hoặc trở nên kẻ bác ái từ thiện.

Những kẻ ném trái bom nguyên tử xuống Hiroshima cũng nói rằng Thượng đế ở bên cạnh họ; những kẻ nào bay oanh tạc cơ từ Anh quốc để phá hủy Đức quốc cũng nói rằng Thượng đế ở bên cạnh họ. Rồi những kẻ độc tài, những vị thủ tướng, những vị tướng lãnh, những vị tổng thống, tất cả mọi người đều nói về Thượng đế, họ có đức tin rất thuần thành về Thượng đế. Phải chăng họ phụng sự loài người, làm đời sống con người trở nên tốt đẹp hơn? Những kẻ nào nói rằng họ tin Thượng đế, chính những kẻ ấy đã từng phá hủy gần phân nửa thế giới, và cả thế giới đang chịu khốn khổ cùng độ. Vì thiếu tinh thần khoan dung tôn giáo, con người đã phân chia ra làm những kẻ có tín ngưỡng và những kẻ vô tín ngưỡng, để rồi đưa đến những trận chiến tranh tôn giáo. Điều ấy chỉ chứng tỏ là các ngài đã bị chính trị tiêm nhiễm vào đầu óc đến mức độ bất ngờ.

Tín ngưỡng vào Thượng đế phải chăng là “một kích thích tố cho đời sống được tươi đẹp hơn”? Tại sao ngài lại muốn có kích thích tố để sống tươi đẹp hơn? Tất nhiên, lòng kích thích của ngài phải là lòng khao khát của ngài muốn sống trong sạch, đơn giản, phải thế không? Nếu ngài mong mỏi trông đợi vào một kích thích tố nào đó, ngài không thực quan tâm đến việc làm đời sống trở nên xán lạn cho tất cả mọi người, mà ngài chỉ quan tâm đến kích thích tố của ngài, mà kích thích tố của ngài lại khác kích thích tố của tôi – và rồi chúng ta lại phải cãi lẫy nhau về kích thích tố. Nếu chúng ta sống hạnh phúc với nhau, không phải bởi vì chúng ta có tín ngưỡng vào Thượng đế, mà bởi vì chúng ta là những con người, lúc ấy chúng ta sẽ chia sẻ toàn thể phương tiện sản xuất để cùng cung cấp mọi sự cho tất cả mọi người. Nhưng vì thiếu mất thông minh, chúng ta lại chấp nhận ý niệm về một trí thông minh vạn năng mà chúng ta gọi là “Thượng đế”; nhưng “Thượng đế” này, trí tuệ vạn năng này, sẽ không mang đến một đời sống tươi đẹp cho chúng ta. Điều dẫn tới một đời sống tươi đẹp chính là sự thông minh của con người; và con người không thể nào thông minh được, nếu hắn lại có tín ngưỡng, nếu hắn phân chia giai cấp xã hội, nếu phương tiện sản xuất lại nằm trong tay một số ít người, nếu những quốc gia lại cô lập và những chính quyền lại chủ trương tập quyền tối thượng. Tất cả những thứ này đều chứng tỏ sự thiếu thông minh, và chính sự thiếu thông minh đã án ngữ chận đứng lại một đời sống tươi đẹp, chứ không phải vô tín ngưỡng vào Thượng đế.

Tất cả các ngài ở đây đều có tín ngưỡng trong nhiều cách khác nhau, nhưng tín ngưỡng của các ngài không có thực chất gì cả. Thực chất, thực tại là bản chất hiện tại của các ngài, những gì các ngài làm, những gì các ngài nghĩ, và tín ngưỡng của các ngài vào nơi Thượng đế chỉ là một cách thoát ly ra ngoài đời sống tầm thường tẻ nhạt, ngu xuẩn, tàn bạo của các ngài. Hơn thế nữa, tín ngưỡng thường khi vẫn luôn luôn chia rẽ con người; người theo Ấn độ giáo, kẻ theo Phật giáo, Thiên chúa giáo, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa tư bản, vân vân – tín ngưỡng, ý tưởng phân chia con người; tín ngưỡng không bao giờ đoàn kết được con người. Ngài có thể tập hợp một số người lại với nhau trong một đoàn thể, nhưng đoàn thể này lại chống đối đoàn thể khác. Những ý tưởng, ý niệm, và những tín ngưỡng không bao giờ làm nhất trí con người, hợp nhất con người được; trái lại, những ý tưởng và những tín ngưỡng chỉ phân hóa, chia rẽ, gây ly tán, phá hoại. Vì thế, tín ngưỡng của ngài nơi Thượng đế đang thực sự gieo rắc thống khổ và phá hoại qua những hình thức của chiến tranh, đói kém, phân chia giai cấp và hành động tàn bạo của những cá nhân biệt lập, vì thế tín ngưỡng của ngài không có giá trị gì cả. Nếu ngài thực sự tin Thượng đế, nếu điều ấy là một kinh nghiệm thực thụ đối với ngài thì lúc ấy nét mặt của ngài sẽ trổ lên một nụ cười; ngài sẽ không giết hại những con người nữa.

Thế thì thực tại là gì, Thượng đế là gì? Thượng đế không phải là một danh từ, danh từ không phải là sự thể. Muốn hiểu biết điều vô lượng, điều phi thời gian, tâm trí phải giải thoát khỏi thời gian, nghĩa là tâm trí phải giải thoát ra ngoài mọi tư tưởng, ra ngoài tất cả ý tưởng, ý niệm về Thượng đế. Các ngài biết gì về Thượng đế hoặc về chân lý? Các ngài thực ra không hiểu gì cả về thực tại ấy. Tất cả những gì các ngài biết được đều là những danh từ, những tiếng lời, những kinh nghiệm của những kẻ khác hoặc một vài thoáng kinh nghiệm mơ hồ của chính ngài. Tất nhiên đó không phải là Thượng đế, đó không phải là thực tại, đó chưa phải là vượt lên trên lãnh vực của thời gian. Muốn hiểu biết điều phi thời gian, tiến trình của thời gian phải được lý hội, và thời gian chính là tư tưởng, tiến trình của sự biến dịch trở thành, sự tích lũy của kiến thức. Đó là toàn thể hậu cảnh của tâm trí; chính tâm trí là hậu cảnh, vừa ý thức vừa vô thức, vừa tập thể vừa cá thể. Vì thế tâm trí phải giải thoát ra ngoài thế giới quen thuộc, nghĩa là tâm trí phải trầm lặng hoàn toàn, chứ không phải bị ép buộc im lặng. Bất cứ tâm trí nào muốn đạt tới sự im lặng như là kết quả, như là hậu quả của hành động quả quyết, của sự thực hành tôi luyện, của kỷ luật thì tâm trí ấy thì tâm trí ấy vẫn không phải là tâm trí trầm lặng. Tâm trí nào bị cưỡng bức, kiềm chế, uốn nắn, bị đóng vào khung và bị buộc phải im lặng thì tâm trí ấy vẫn không phải là tâm trí trầm lặng. Các ngài có thể thành công một giai đoạn trong việc cưỡng bức tâm trí im lặng một cách hời hợt ở bề mặt, nhưng tâm trí ấy vẫn không phải là một tâm trí trầm lặng. Sự trầm lặng chỉ hiện đến khi nào ngài hiểu được trọn vẹn tiến trình của tư tưởng, bởi vì hiểu được tiến trình ấy là chấm dứt nó, và sự chấm dứt tiến trình tư tưởng là bắt đầu sự im lặng.

Chỉ khi nào tâm trí được hoàn toàn im lặng, không phải chỉ im lặng ở thượng tầng, mà phải ở tận cùng căn để, im lặng toàn triệt: vừa ở tầng nông cạn, vừa ở tầng sâu thẳm của ý thức – chỉ có lúc ấy sự mới lạ mới hiện bày. Sự mới lạ không phải là một điều có thể sở nghiệm được bằng tâm trí, chỉ có sự im lặng mới có thể sở nghiệm được, không còn gì cả, ngoài sự im lặng, chỉ còn là im lặng. Nếu tâm trí lại thể nghiệm bất cứ sự việc gì khác ngoài sự im lặng thì tâm trí chỉ phóng hiện ra ngoài những khao khát của chính nó, và tâm trí như thế không thể nào trầm lặng được; khi mà tâm trí không im lặng, khi mà tư tưởng trong bất cứ hình thức nào, dù ý thức hay vô thức, hãy còn vận hành thì không thể nào có sự im lặng được. Sự im lặng là tự do, thoát khỏi quá khứ, thoát khỏi kiến thức, thoát khỏi cả ký ức hữu thức và ký ức vô thức; khi tâm trí hoàn toàn im lặng, khi tâm trí không còn hoạt động, khi có sự im lặng, mà không phải là sản phẩm của nỗ lực, chỉ khi ấy thực tại phi thời gian, vĩnh cửu mới xuất hiện. Trạng thái ấy không phải là một trạng thái hồi tưởng – không có thực thể nào hồi tưởng và thể nghiệm cả.

Vì vậy, Thượng đế hoặc chân lý, hoặc bất cứ danh hiệu nào khác, là một sự thể xuất hiện từ giây phút này đến giây phút khác, và sự thể ấy chỉ xuất hiện trong trạng thái tự do và tự nhiên, chứ không phải lúc tâm trí bị kiềm chế khuôn rập theo một mẫu mực nào đó, Thượng đế không phải là một sự việc của tâm trí. Thượng đế không hiện hữu qua sự phóng ngoại của tự ngã; thực tại chỉ đến khi nhân đức hiện hữu, tức là tự do. Nhân đức là việc đối mặt với hiện thể và đối diện với sự kiện là một trạng thái hạnh phúc tuyệt trần. Chỉ khi nào tâm trí ngất ngây sung sướng, trầm lặng, không động đậy vận hành gì nữa, tịch tịnh, không phóng hiện tư tưởng hữu thức hoặc vô thức – chỉ có lúc ấy sự vĩnh cửu mới hiện đến.

Phạm Công Thiện dịch Việt
Xin cứ để cho tôi đốt ngọn đèn của tôi đi… mà đừng bao giờ hỏi nó sẽ làm tan được bóng tối hay không. R. Tagore
Reply