2022-03-26, 10:47 PM
(tt) Sư Toại Khanh Giảng Kinh Ðế-Thích Sở Vấn 1 (2-4)
https://toaikhanh.com/videotext.php?vid=wSiMYDfRvFY&abt=Kinh+%C3%90%E1%BA%BF-Th%C3%ADch+S%E1%BB%9F+V%E1%BA%A5n+1
Thứ hai, Pháp Bảo là những sự thật trong cuộc đời này. Những sự thật đó mãi mãi nằm trong bóng đêm không một ai biết tới, tới khi vị Chánh Đẳng Giác ra đời thì Ngài mới phơi mở cho mọi người biết:
Phật Bảo là
Tăng Bảo là
Tăng Bảo mà trong Kinh đức Phật ngài dạy thì mình không có duyên gặp, không có cửa đâu. Nếu hôm nay mà có thì người ta lên núi lên rừng dưới biển ở hết rồi. Hỏng ai cho mình thấy đâu, thời này nè. Cho nên Tăng Bảo là những vị Thánh, có thể là những vị bần tăng khổ sãi, te tua rách nát trên núi. Mà cũng có thể kể là những vị Thọ thần trong đền trong miễu mình không biết.
– Gặp trong điều kiện thích hợp, bữa hổm mình đã học rồi:
Gặp được Tam bảo ở đây là không vướng phải những chướng duyên trong thời kỳ còn Phật Pháp.
Có 8 chướng duyên, Pali là ‘abhabbathana’. Nghĩa là
Cho nên chữ ‘gặp’ đây có nghĩa là mình ở cái chỗ mà mình có thể tiếp cận được tăng ni, Kinh sách, Phật tử và trong điều kiện tâm sinh lý hoàn hảo (không khùng điên, đui mù, câm điếc …), không ở trong xứ binh đao khói lửa, chiến tranh, can qua, mạng người mong manh thì làm sao học Đạo? Cho nên phải hội đủ những điều kiện này mình mới học Đạo được.
Học bằng kiểu gì?
– Học bằng niềm tin chánh tín, tức là đức tin đi với trí tuệ.
Nghĩa là
Ba la mật là những việc thiện được thực hiện với lý tưởng cầu giải thoát. Ai trong nhiều đời quá khứ từng chán đời, từng sợ sanh tử rồi làm các điều lành mong giải thoát, những việc làm đó (việc lành làm với tâm nguyện cầu giải thoát) được gọi là ba la mật.
Vậy nếu đời trước mình có ba la mật nhiều thì bây giờ gặp được Tam bảo mình sẽ nhận được nhiều lợi lạc hơn người kém ba la mật hoặc ba la mật yếu.
Nhớ nghe, cái này rất quan trọng.
Tôi nhắc lại lần nữa, quý vị chỉ cần tiếp xúc người nào đó trong chừng vài ngày các vị sẽ thấy, họ thích cái gì khi họ đến chùa, họ thích cái gì khi họ xem Kinh, họ chú ý cái gì khi họ nghe giảng. Bởi vì điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào khuynh hướng tâm lý của họ.
Cũng không cần tôi phải nói nhiều, các vị dò trong Kinh, các vị ngồi yên xếp bằng nhắm mắt là các vị thấy, khỏi giải thích thêm. Đó là thời Đức Phật, rõ ràng Ngài còn đó trước mặt họ đó, vậy mà
Nhưng mà có người đành lòng gặp Phật, xuất gia theo Phật, tưởng sao, xin Phật cho một câu gì đó xong lên rừng ở rồi chết luôn ở trển. Mà trường hợp này nhiều lắm!
Rồi có người gặp Phật rồi, xuất gia rồi lại
Nga`i Bakkula
Người ta đến quỳ dưới chân ngài, chỉ xin ngài ngồi yên đó thôi đừng nhúc nhích gì, ‘Ngài chỉ chứng minh cho con, làm thầy bổn sư cho con’, mà cũng không thèm làm. Ngài không hề muốn có đệ tử tăng tục, sống đến 160 tuổi, viên tịch theo cách xá lợi tự mất. Cả đời ngài không có bịnh. Cả đời ngài cũng không nhận thức ăn đặc biệt từ một thí chủ nào hết. Ngài cứ ôm bát nhà nhà Ngài ghé, củ khoai củ chuối miếng bánh thì Ngài về ngài sống. Không hề có một người nào cúng dường cho ngài trọn vẹn mà ngài chỉ nhận một ít thôi, nhà nhà nhận một ít, cả đời vậy, 80 năm. Khi 80 tuổi ngài mới đi xuất gia, đặc biệt xuất gia được 7 hôm thì ngài chứng quả La hán. Từ đó ngài không có nhận đệ tử. Cứ vậy cho đến khi 160 tuổi . Một buổi chiều ngài họp chư tăng lại ngài nói khuya nay tôi đi. Ngài xin từ giã anh em, trong suốt thời gian ở đây có cái gì làm phiền sám hối hết. Tới lúc ngài viên tịch ngài xếp bằng nhập đề mục Hỏa giới tam muội, chú nguyện rằng ‘Khi nào tâm tử (tâm viên tịch) xuất hiện thì xin lửa tự phát cháy, tự hỏa thiêu di hài của ta và không để lại một dấu vết nào hết’. Ngài chú nguyện xong thì trong vòng 2 giây rưỡi đồng hồ là ngài viên tịch. Ngài tịch xong thì lửa tự phát cháy và không để lại dấu vết. Nói chung cả đời ngài không để lại một dấu vết nào hết. (hết truyện kể về ngài Bakkula)
Bữa hổm có người đọc quyển ‘Chuyện phiếm thầy tu’ của chúng tôi họ hỏi trong đó có bài ‘Kỷ vật nào cho em’ thì bài đó tôi có nói đến một chuyện là trong đời này có hai hạng người:
Tôi nói mình sống ở đời mà khi mình ra đi không để lại dấu vết gì tai hại cho đời sau thì đó là đệ nhị hiền giả. Rồi có người hỏi vậy đệ nhất là sao. Thì tôi nói đúng ra quí vị tự đoán.
Nếu nói theo kiểu thế gian thì tôi đi tôi không để lại cái xấu. Nhưng mà không! Tôi có để lại cái xấu, đó là tôi để lại tấm gương: có nhiều người họ nhìn kiểu sống tôi họ thích. Như vậy cũng không được. Họ thích kiểu sống của một người độc thân suốt đời, thì cái đó không được. Đó cũng là một cách để lại .
Theo tinh thần Phật Pháp cái mà mình ĐỂ LẠI TỐT NHỨT CHO ĐỜI ĐÓ LÀ HÌNH ẢNH GIẢI THOÁT. Đó là cái để lại đẹp nhứt.
Mà anh để lại bất cứ hình ảnh nào mà nó gợi ý cho người ta về sự sanh tử, cho dầu đó là nếp sống đẹp nhưng nó vẫn là một gợi ý sanh tử. Cái này nhiều người không học Đạo dễ hiểu lầm.
Cách đây khoảng 20 năm tôi có một buổi giảng ở Cồn Phụng Bến Tre.Tôi nói về thiện ác, thì có một ông cụ năm đó tám mấy tuổi rồi. Ông khoe với tôi, ông nói: “Tui nghe giảng vậy cũng vui vì tui năm nay tám mấy tuổi rồi, cả đời tui coi như không có làm gì ác hết. Hồi nhỏ chỉ có ruộng nương theo ba má. Rồi lớn lên lấy vợ đẻ con rồi tiếp tục ruộng nương nữa. Không có đâm heo thuốc chó, đốt nhà, cướp của giết người, không gây thù chuốc oán ai hết tui cũng vui quá. Coi như đời này tui đã không làm ác”. Thì tôi thấy ổng đang sung quá tôi im luôn. Chớ hỏng lẽ giờ mình nói thiệt là “Dạ thưa cụ, ác có 3 kiểu: thân làm ác, khẩu nói ác, còn ý ác nữa. Cụ khoái câu cá, hoặc cụ thấy người ta bị khổ mà cụ thấy vui thì cũng là ác rồi. Chớ không cần đâm heo thuốc chó mới gọi là ác”. Thấy người ta đang hứng chí, với lại người ta nghĩ vậy cũng được 5/10 rồi thì thôi.
Tôi trở lại bài. Đế Thích thưa với Phật là Thế Tôn ra đời đã khiến cho thiên giới của con được hưng thịnh và cảnh giới của A tu la bị thoái giảm. Tuy nhiên có một số người biết được Phật Pháp rồi, nhưng không có được ân triêm lợi lạc như người khác. Bởi vì sức người có hạn, lực bất tòng tâm, nhiều khi muốn tu học hơn nữa mà không được. Có biết bao nhiêu người kể cả tăng ni cạo tóc đắp y, nhưng khi đi vào đạo rồi thì lý tưởng sống của họ không liên hệ gì tới Pháp học Pháp hành. Họ lại đi chăm lo một chuyện khác mà họ lại thấy cái đó là cái hay. Thì tùy vào cái ba la mật của mình mà mình nhận được gì từ Phật Pháp. Đó là đoạn số 10.
Từ đoạn số 12 trở đi là bài kệ của thiên tử Gobakka . Đế Thích kể lại câu kệ của thiên tử Gobakka. Ông này hồi ở dưới trần là một người con gái trong dòng họ Thích Ca. Nhưng vì ổng nhàm chán thân nữ, Chánh Kinh ghi rõ ổng từ bỏ tâm niệm nữ nhân, trau giồi ý chí nam nhân, cộng với các công đức bố thí, trì giới cho nên khi mất rồi nàng chuyển thành chàng. Đây là một trong những chỗ hiếm hoi nói về những chi tiết liên quan Phật Độc Giác.
Đó giờ mình nghe giảng hay đọc Kinh mình biết Chánh Đẳng Giác chắc chắn là người nam. Chuyển luân vương bắt buộc phải là người nam, Ác ma thiên tử, Đế Thích bắt buộc phải là người nam. Trên Phạm thiên không có nam nữ giới tính nhưng tất cả hình dáng đều là người nam.
Còn Độc Giác thì sao? Tôi không có thấy chỗ nào xác định nhưng tôi chỉ khẳng định một điều Độc Giác không thể là nữ.
Vì sao?
– Là vì mình thấy:
– Trong đời này có vô lượng chúng sinh, nhưng khuynh hướng chỉ có 4 thôi:
https://toaikhanh.com/videotext.php?vid=wSiMYDfRvFY&abt=Kinh+%C3%90%E1%BA%BF-Th%C3%ADch+S%E1%BB%9F+V%E1%BA%A5n+1
Thứ hai, Pháp Bảo là những sự thật trong cuộc đời này. Những sự thật đó mãi mãi nằm trong bóng đêm không một ai biết tới, tới khi vị Chánh Đẳng Giác ra đời thì Ngài mới phơi mở cho mọi người biết:
- ‘Đây là con đường dẫn tới sự sa đọa.
- Đây là con đường dẫn tới cảnh giới Dục thiên.
- Đây là con đường dẫn tới Phạm thiên.
- Đây là con đường dẫn tới sự chấm dứt sanh tử.
- Đây là con đường dẫn tới quả vị Thinh Văn.
- Đây là con đường dẫn tới quả vị Độc Giác, và
- đây là con đường dẫn tới quả vị Chánh Đẳng Chánh Giác’.
Phật Bảo là
- đấng Pháp Vương,
- tự mình giác ngộ,
- bản thân Ngài là của báu.
- những chân lý, những sự thật mà không phải do các ngài sáng chế ra.
- Các ngài chỉ là người khơi dậy, khai mở cho mình thấy.
Tăng Bảo là
- những điển hình,
- những gương sống cụ thể của Pháp Bảo.
Tăng Bảo mà trong Kinh đức Phật ngài dạy thì mình không có duyên gặp, không có cửa đâu. Nếu hôm nay mà có thì người ta lên núi lên rừng dưới biển ở hết rồi. Hỏng ai cho mình thấy đâu, thời này nè. Cho nên Tăng Bảo là những vị Thánh, có thể là những vị bần tăng khổ sãi, te tua rách nát trên núi. Mà cũng có thể kể là những vị Thọ thần trong đền trong miễu mình không biết.
- Tất cả nhân, thiên, tăng, tục mà chứng từ Sơ quả trở lên được gọi là Tăng Bảo.
- Bởi vì sao? – Bởi vì họ là cái MÔ HÌNH CỦA PHÁP BẢO (modul).
- Tăng Bảo chỉ có trong thời Phật.
- Phật Bảo là người thành tựu tất cả thiện pháp và có thể giúp cho người khác được như mình.
- Pháp Bảo là lời dạy của con người đó.
- Tăng Bảo là những người hành trì theo con người đó.
- BẢO có nghĩa là PHẬT lợi ích như thế nào, hiếm hoi như thế nào.
- PHÁP lợi ích như thế nào, hiếm hoi như thế nào,
- TĂNG là lợi ích như thế nào, hiếm hoi như thế nào mới gọi là ‘bảo’.
- Đặc biệt, điều thứ tư: phải là người đại phước mới gặp được Tam bảo, tin được Tam bảo.
– Gặp trong điều kiện thích hợp, bữa hổm mình đã học rồi:
Gặp được Tam bảo ở đây là không vướng phải những chướng duyên trong thời kỳ còn Phật Pháp.
Có 8 chướng duyên, Pali là ‘abhabbathana’. Nghĩa là
- khi Đức Phật ra đời hoặc khi giáo pháp của Ngài còn, mình lại là người tà kiến sâu nặng, thứ tà kiến bất trị;
- hoặc khi Tam Bảo còn ở đời mà mình lại là đui mù câm điếc, khùng điên mất trí;
- khi Tam bảo còn ở đời mà mình lại sanh ra trong những vùng biên địa, ở những xứ sở xa xôi, không có điều kiện tiếp cận với văn minh của loài người.
Cho nên chữ ‘gặp’ đây có nghĩa là mình ở cái chỗ mà mình có thể tiếp cận được tăng ni, Kinh sách, Phật tử và trong điều kiện tâm sinh lý hoàn hảo (không khùng điên, đui mù, câm điếc …), không ở trong xứ binh đao khói lửa, chiến tranh, can qua, mạng người mong manh thì làm sao học Đạo? Cho nên phải hội đủ những điều kiện này mình mới học Đạo được.
Học bằng kiểu gì?
– Học bằng niềm tin chánh tín, tức là đức tin đi với trí tuệ.
- Tin bằng chánh tín,
- hiểu bằng chánh kiến, chánh trí.
Nghĩa là
- tùy vào căn duyên,
- tùy vào khuynh hướng tâm lý,
- tùy vào phước báo ba la mật
Ba la mật là những việc thiện được thực hiện với lý tưởng cầu giải thoát. Ai trong nhiều đời quá khứ từng chán đời, từng sợ sanh tử rồi làm các điều lành mong giải thoát, những việc làm đó (việc lành làm với tâm nguyện cầu giải thoát) được gọi là ba la mật.
Vậy nếu đời trước mình có ba la mật nhiều thì bây giờ gặp được Tam bảo mình sẽ nhận được nhiều lợi lạc hơn người kém ba la mật hoặc ba la mật yếu.
Nhớ nghe, cái này rất quan trọng.
Tôi nhắc lại lần nữa, quý vị chỉ cần tiếp xúc người nào đó trong chừng vài ngày các vị sẽ thấy, họ thích cái gì khi họ đến chùa, họ thích cái gì khi họ xem Kinh, họ chú ý cái gì khi họ nghe giảng. Bởi vì điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào khuynh hướng tâm lý của họ.
Cũng không cần tôi phải nói nhiều, các vị dò trong Kinh, các vị ngồi yên xếp bằng nhắm mắt là các vị thấy, khỏi giải thích thêm. Đó là thời Đức Phật, rõ ràng Ngài còn đó trước mặt họ đó, vậy mà
- có người chỉ thích làm cư sĩ thôi, thích hộ trì chư tăng thôi, không đi xuất gia.
- Rồi có người đi xuất gia rồi khoái học Tam tạng thôi. Khoái học Phật ngôn thuộc lòng bộ này qua bộ kia, Kinh này qua Kinh nọ.
- Có người xuất gia rồi lại khoái lên rừng, ở cheo leo một mình ma thiêng nước độc, lam sơn chướng khí, trong khi Phật thì còn đó.
Nhưng mà có người đành lòng gặp Phật, xuất gia theo Phật, tưởng sao, xin Phật cho một câu gì đó xong lên rừng ở rồi chết luôn ở trển. Mà trường hợp này nhiều lắm!
Rồi có người gặp Phật rồi, xuất gia rồi lại
- khoái làm Pháp sư.
- Có vị khoái làm Luật sư.
- Có vị muốn lên rừng làm đầu đà sư.
- Có vị lại vừa tu cho mình lại cũng muốn có đệ tử. Có vị lại muốn một mình mình cả đời không có đệ tử nào hết (như ngài Bakkula).
Nga`i Bakkula
Người ta đến quỳ dưới chân ngài, chỉ xin ngài ngồi yên đó thôi đừng nhúc nhích gì, ‘Ngài chỉ chứng minh cho con, làm thầy bổn sư cho con’, mà cũng không thèm làm. Ngài không hề muốn có đệ tử tăng tục, sống đến 160 tuổi, viên tịch theo cách xá lợi tự mất. Cả đời ngài không có bịnh. Cả đời ngài cũng không nhận thức ăn đặc biệt từ một thí chủ nào hết. Ngài cứ ôm bát nhà nhà Ngài ghé, củ khoai củ chuối miếng bánh thì Ngài về ngài sống. Không hề có một người nào cúng dường cho ngài trọn vẹn mà ngài chỉ nhận một ít thôi, nhà nhà nhận một ít, cả đời vậy, 80 năm. Khi 80 tuổi ngài mới đi xuất gia, đặc biệt xuất gia được 7 hôm thì ngài chứng quả La hán. Từ đó ngài không có nhận đệ tử. Cứ vậy cho đến khi 160 tuổi . Một buổi chiều ngài họp chư tăng lại ngài nói khuya nay tôi đi. Ngài xin từ giã anh em, trong suốt thời gian ở đây có cái gì làm phiền sám hối hết. Tới lúc ngài viên tịch ngài xếp bằng nhập đề mục Hỏa giới tam muội, chú nguyện rằng ‘Khi nào tâm tử (tâm viên tịch) xuất hiện thì xin lửa tự phát cháy, tự hỏa thiêu di hài của ta và không để lại một dấu vết nào hết’. Ngài chú nguyện xong thì trong vòng 2 giây rưỡi đồng hồ là ngài viên tịch. Ngài tịch xong thì lửa tự phát cháy và không để lại dấu vết. Nói chung cả đời ngài không để lại một dấu vết nào hết. (hết truyện kể về ngài Bakkula)
Bữa hổm có người đọc quyển ‘Chuyện phiếm thầy tu’ của chúng tôi họ hỏi trong đó có bài ‘Kỷ vật nào cho em’ thì bài đó tôi có nói đến một chuyện là trong đời này có hai hạng người:
- đệ nhất hiền giả và
- đệ nhị hiền giả.
Tôi nói mình sống ở đời mà khi mình ra đi không để lại dấu vết gì tai hại cho đời sau thì đó là đệ nhị hiền giả. Rồi có người hỏi vậy đệ nhất là sao. Thì tôi nói đúng ra quí vị tự đoán.
- Người mà đi không để lại gì xấu cũng không để lại gì tốt cho đời đó là đệ nhị hiền giả.
- Còn đệ nhất đây có nghĩa là đi, chẳng những không để lại cái xấu mà còn để lại cái tốt thì đó là đệ nhất.
- Chỉ có đời sống một bậc Thánh mới thật sự là không để lại cái xấu.
- Còn phàm phu, cho dù là sống dễ thương cách mấy, sống đẹp cách mấy, nhưng chỉ cần mình còn là phàm phu, thì sự có mặt của một người phàm lúc vui lúc buồn cũng là một cái để cho người khác nhìn.
Nếu nói theo kiểu thế gian thì tôi đi tôi không để lại cái xấu. Nhưng mà không! Tôi có để lại cái xấu, đó là tôi để lại tấm gương: có nhiều người họ nhìn kiểu sống tôi họ thích. Như vậy cũng không được. Họ thích kiểu sống của một người độc thân suốt đời, thì cái đó không được. Đó cũng là một cách để lại .
Theo tinh thần Phật Pháp cái mà mình ĐỂ LẠI TỐT NHỨT CHO ĐỜI ĐÓ LÀ HÌNH ẢNH GIẢI THOÁT. Đó là cái để lại đẹp nhứt.
Mà anh để lại bất cứ hình ảnh nào mà nó gợi ý cho người ta về sự sanh tử, cho dầu đó là nếp sống đẹp nhưng nó vẫn là một gợi ý sanh tử. Cái này nhiều người không học Đạo dễ hiểu lầm.
Cách đây khoảng 20 năm tôi có một buổi giảng ở Cồn Phụng Bến Tre.Tôi nói về thiện ác, thì có một ông cụ năm đó tám mấy tuổi rồi. Ông khoe với tôi, ông nói: “Tui nghe giảng vậy cũng vui vì tui năm nay tám mấy tuổi rồi, cả đời tui coi như không có làm gì ác hết. Hồi nhỏ chỉ có ruộng nương theo ba má. Rồi lớn lên lấy vợ đẻ con rồi tiếp tục ruộng nương nữa. Không có đâm heo thuốc chó, đốt nhà, cướp của giết người, không gây thù chuốc oán ai hết tui cũng vui quá. Coi như đời này tui đã không làm ác”. Thì tôi thấy ổng đang sung quá tôi im luôn. Chớ hỏng lẽ giờ mình nói thiệt là “Dạ thưa cụ, ác có 3 kiểu: thân làm ác, khẩu nói ác, còn ý ác nữa. Cụ khoái câu cá, hoặc cụ thấy người ta bị khổ mà cụ thấy vui thì cũng là ác rồi. Chớ không cần đâm heo thuốc chó mới gọi là ác”. Thấy người ta đang hứng chí, với lại người ta nghĩ vậy cũng được 5/10 rồi thì thôi.
Tôi trở lại bài. Đế Thích thưa với Phật là Thế Tôn ra đời đã khiến cho thiên giới của con được hưng thịnh và cảnh giới của A tu la bị thoái giảm. Tuy nhiên có một số người biết được Phật Pháp rồi, nhưng không có được ân triêm lợi lạc như người khác. Bởi vì sức người có hạn, lực bất tòng tâm, nhiều khi muốn tu học hơn nữa mà không được. Có biết bao nhiêu người kể cả tăng ni cạo tóc đắp y, nhưng khi đi vào đạo rồi thì lý tưởng sống của họ không liên hệ gì tới Pháp học Pháp hành. Họ lại đi chăm lo một chuyện khác mà họ lại thấy cái đó là cái hay. Thì tùy vào cái ba la mật của mình mà mình nhận được gì từ Phật Pháp. Đó là đoạn số 10.
Từ đoạn số 12 trở đi là bài kệ của thiên tử Gobakka . Đế Thích kể lại câu kệ của thiên tử Gobakka. Ông này hồi ở dưới trần là một người con gái trong dòng họ Thích Ca. Nhưng vì ổng nhàm chán thân nữ, Chánh Kinh ghi rõ ổng từ bỏ tâm niệm nữ nhân, trau giồi ý chí nam nhân, cộng với các công đức bố thí, trì giới cho nên khi mất rồi nàng chuyển thành chàng. Đây là một trong những chỗ hiếm hoi nói về những chi tiết liên quan Phật Độc Giác.
Đó giờ mình nghe giảng hay đọc Kinh mình biết Chánh Đẳng Giác chắc chắn là người nam. Chuyển luân vương bắt buộc phải là người nam, Ác ma thiên tử, Đế Thích bắt buộc phải là người nam. Trên Phạm thiên không có nam nữ giới tính nhưng tất cả hình dáng đều là người nam.
Còn Độc Giác thì sao? Tôi không có thấy chỗ nào xác định nhưng tôi chỉ khẳng định một điều Độc Giác không thể là nữ.
Vì sao?
– Là vì mình thấy:
- Những quả vị như Thiên vương Đế Thích, Ác ma thiên tử, Chuyển luân vương mà không là nữ, thì làm sao Độc giác là nữ được ?
- Thứ hai, cái ba la mật nào đã tạo nên quả vị Độc Giác thì ngay bản thân ba la mật đó đã đi ngược lại cái nữ tính, đã phủ nhận cái nữ tính từ lâu người ta mới chứng được Độc Giác. Nói vậy thôi đó là suy diễn.
- Nhưng hôm nay chính thức trong Kinh này xác nhận là Độc Giác bắt buộc phải là nam nhân. Bà con nhớ nếu mai mốt tôi có hỏi Kinh nào thì bà con nói Sớ giải Kinh Đế Thích vấn đạo (Trường Bộ).
– Trong đời này có vô lượng chúng sinh, nhưng khuynh hướng chỉ có 4 thôi:
- Một, đời đời muốn sống chết buồn vui trong 5 dục. Đó là hạng chúng sanh Dục giới.
- Thứ hai, chán đời sống dục cảm mà muốn thiền định. Nhưng thiền định của người này còn liên hệ vật chất. Như muốn tu thiền là để sanh về cõi nào đó cũng có trăng, sao, hoa lá, hồ nước, hoa viên. Mặc dù lòng không thích hưởng thụ 5 dục nhưng đề mục tu thiền vẫn là vật chất, vẫn muốn sanh về cõi nào đó có chỗ ở hẳn hoi, cụ thể chớ không phải mơ mơ hồ hồ. Hạng này muốn tu thiền nhưng vẫn còn muốn hình danh sắc tướng. Đó là hạng chúng sanh Sắc giới.
- Hạng thứ ba, họ cũng thích thiền định nhưng họ chán luôn cả hình danh sắc tướng. Họ không thích vẻ ngoài vật chất nữa, họ tu thiền Vô sắc và trở thành Phạm thiên Vô sắc.
- Hạng thứ tư, họ nhàm chán mọi hình thức hiện hữu. Họ thấy rằng dầu sanh về cảnh giới nào đi nữa thì trước sau nó chỉ là cái vòng luẩn quẩn loanh quanh. Sanh về cõi Vô sắc cao nhứt là Phi tưởng phi phi tưởng, 84.000 đại kiếp tưởng sao hết tuổi thọ lại lọt xuống cõi Dục, cũng tiếp tục nẻo cũ đường xưa: sa đọa, đau khổ, bất thiện, tiếp tục cái vòng quay mới. Nên lòi ra hạng thứ tư này là không muốn sanh tử nữa.
- Họ làm các công đức và nguyện ngay khi nào duyên chín muồi thì tôi sẽ thành Phật với một sự giúp đỡ của ai đó. Hạng này gọi là Thinh Văn Giác.
- Trường hợp thứ hai, chán khổ lắm và muốn tự mình tìm đường giải thoát. Nghĩa là lúc nào duyên chín muồi thì tôi giải thoát không cần thầy gì hết, cũng không muốn làm thầy ai hết gọi là Độc Giác: Paccekabuddha (pati + eka = pacceka).
- Trường hợp thứ ba, Toàn Giác là trên không có thầy, muốn tự mình tìm Đạo nhưng dưới thì sẵn lòng cưu mang vô lượng đệ tử.
⏱️
Diễn đàn tuy ảo, nhưng nghiệp quả có thật
Sư Toại Khanh (Giác Nguyên) Giảng Kinh
Diễn đàn tuy ảo, nhưng nghiệp quả có thật
Sư Toại Khanh (Giác Nguyên) Giảng Kinh